Home / Học tập / Ngữ văn lớp 12 / Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt đạt điểm cao

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt đạt điểm cao

Đề bài: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt

Bài làm

Sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm của Kim Lân đều được các nhà phê bình và bạn đọc đánh giá cao. Với lối viết giản dị, mộc mạc, ông thường đi sâu phản ánh vẻ đẹp âm hồn của những người nông dân nghèo, thể hiện hình ảnh làng quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám không chỉ có bóng tối của nghèo đói bao trùm mà còn tỏa sáng những vẻ đẹp thuần khiết không bị hoàn cảnh nhuộm đen. Vợ nhặt- một trong những tác phẩm thành công nhất của nhà văn- đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà nổi bật nhất có lẽ chính là nhân vật bà cụ Tứ với lòng nhân ái và khát khao sống mãnh liệt.

Vốn dĩ là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được Kim Lân sáng tác ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng do bị thất lạc trong thời kì kháng chiến chống Pháp nên sau này, khi miền Bắc giải phóng, truyện ngắn Vợ nhặt được viết nên từ những gì còn lại của cốt truyện cũ. Đến năm 1962, tác phẩm được in trong tập truyện ngắn Con chó xấu xí. Truyện kể về Tràng- một người lao động nghèo khổ sống cùng mẹ là bà cụ Tứ ở xóm ngụ cư- giữa những ngày tháng đói quay đói quắt lại “nhặt” được vợ. Một tình huống éo le đến chưa bao giờ gặp như thế được Kim Lân đưa vào tác phẩm lại trở nên thật thuyết phục bởi tài năng cùng lối viết giản dị, chân thành của mình. Từ đó, nhà văn đã khẳng định và ngợi ca lòng nhân ái và khát vọng sống mãnh liệt của con người trong những năm đói. Tình huống truyện mới lạ của tác phẩm được Kim Lân sử dụng để đặt ngay nhan đề cho truyện. “Vợ nhặt” đem đến cho người đọc hai khái niệm tưởng chừng như đối lập nhau nhưng lại hài hòa đến hoàn hảo trong tác phẩm. Người ta thường chỉ “nhặt” những vật nhỏ bé ở dưới đất lên một cách ngẫu nhiên, vô tình chứ không thể “nhặt” được một con người, đặc biệt là một người vợ. Chuyện lấy vợ vốn là chuyện hệ trọng của cả một đời người, phải được chuẩn bị kĩ lưỡng, trải qua đầy đủ các nghi lễ như dạm ngõ, ăn hỏi,… chứ không thể đơn giản chỉ là “nhặt” lấy một người vợ. Nhan đề “Vợ nhặt”- đặt hai khái niệm “vợ” và “nhặt” cạnh nhau, nhà văn đã khiến cho người đọc phải băn khoăn, suy đoán về giá trị của người vợ cũng như hoàn cảnh của người chồng, từ đó, kích thích sự tò mò của người đọc.

Làm nền cho hình tượng các nhân vật hiện lên một cách nổi bật nhất, khung cảnh làng quê Việt Nam giữa nạn đói năm 1945 hiện lên trong tác phẩm thật chân thực và sinh động. Khi một ngày mới bắt đầu, theo lẽ thường người ta phải vui tươi, phấn khởi, thế nhưng ở nơi chỉ có cái đói, cái nghèo bao trùm không khí, buổi sáng hay buổi đêm có lẽ cũng chẳng khác nhau là mấy. Ở xóm ngụ cư nơi Tràng và bà cụ Tứ sinh sống, sáng sớm, người ta đã thấy “người chết như ngả rạ”. Ngay bên cạnh, những người sống thì “xanh xám như những bóng ma”, “dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma” hay thậm chí là nằm ngổn ngang trên mặt đất, khuôn mặt hốc hác và u tối. Hai lần so sánh những người còn sống với những bóng ma, nhà văn dường như muốn nhấn mạnh vào sự ngắn ngủi của sự sống, sự cận kề của cái chết. Điểm vào bức tranh làng quê ảm đạm ấy là những “tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Người chết nhiều, bóng quạ cũng ngày một nhiều hơn, dọa cả những người còn đang sống. Làng quê càng trở nê thê lương hơn. Người chết vì đói nhiều vô kể, “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”, người ta phải đốt đống rấm thay cho hương khói để xua đi hơi lạnh lẽo của xác chết. Đường làng, hai bên tối om, không có lấy một ánh sáng của đèn hay lửa, không khí càng trở nên lạnh lẽo, ảm đạm. Được cảm nhận và khắc họa qua cả thị giác, thính giác và khứu giác, cảnh làng quê hiện lên dưới ngòi bút của Kim Lân như biến thành nghĩa địa, những con người như những bóng ma không còn chút hy vọng vào cuộc sống. Cái đói hiện hình lên thành cái chết, bao phủ, đe dọa cuộc sống con người.

Xem thêm:  Soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Trong cái đói khủng khiếp ấy, những tưởng tâm hồn và lương tâm con người cũng sẽ chẳng thể giữ nổi, nhưng hóa ra càng trong cái khổ, cái nghèo, người ta lại càng trở nên mạnh mẽ với niềm khát khao sống mãnh liệt và một tấm lòng đẹp, tỏa sáng giữa những u tối của hoàn cảnh. Thể hiện rõ nét nhất vẻ đẹp của lòng nhân ái và khát vọng sống trong truyện phải kể đến nhân vật bà cụ Tứ. Xuất hiện ở giữa truyện, lại là một nhân vật phụ nhưng nhân vật bà cụ Tứ đã giúp nhà văn thể hiện chủ đề của tác phẩm qua tính cách và chủ yếu là diễn biến tâm lí của bà khi Tràng đưa cô vợ “nhặt” về nhà. Trước hết đó là sự ngạc nhiên. Một người mẹ có con trai đã quá lứa lỡ thì, trong những tháng ngày nghèo đói của năm 1945- khi mà chỉ lo cho một mình mình còn khó- lại đưa về nhà một người đàn bà và giới thiệu rằng đó là vợ của mình. Dù là bất kì ai, chỉ cần nghe câu chuyện đó thôi cũng sẽ thấy thật bất ngờ, thậm chí là khó tin. Đó cũng chính là cảm xúc của bà cụ Tứ lúc ấy. Từ khi còn chưa về đến nhà, bà đã thấy lạ khi ngày hôm nay, con trai lại ra tận cổng đón mình. Bà “nhấp nháy hai con mắt” nhìn Tràng, “phấp phỏng” hỏi xem có chuyện gì mà hôm nay Tràng lại lạ như thế. Rồi đến khi đứng trong sân nhìn vào, thấy có một người phụ nữ lạ đứng trong nhà mình, bà càng ngạc nhiên hơn: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia?”. Thế nhưng khi chị ta gọi bà là “u”, dường như bà đã ngờ ngợ điều gì đó. Bà thắc mắc: “Sao lại chào mình bằng u?”, và rồi bà “hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhòe ra thì phải”. Điều mà bà ngờ lại đúng là sự thật. Thật bất ngờ! Cho dù có ngờ ngợ điều đó từ trước, bà vẫn không khỏi ngạc nhiên, bởi lẽ bà không hiểu, một người như con trai mình, chỉ là một người làm thuê, lại là dân ngụ cư, cũng chẳng có tài cán gì, lại có thể có một cô vợ trong những ngày đói khổ cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người.

Xem thêm:  Cảm nhận của anh/chị về hình tượng Lor-ca trong bài thơ Đản ghi-ta của Lor-ca.

phan tich nhan vat ba cu tu trong tac pham vo nhat - Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt đạt điểm cao

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ

Sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà lão “cúi đầu nín lặng”, một sự im lặng đầy nội tâm. Bà tiếp nhận hạnh phúc của con trai bằng kinh nghiệm sống của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh. Thân là người mẹ, bà cụ Tứ hơn ai hết phải là người mừng cho các con đầu tiên, nhưng song song với cái mừng, cái vui ấy, bà cũng đồng thời buồn tủi vì thương con, thương cả chính bản thân mình: “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Mẹ chồng thương là khe khắt chọn dâu, khó có người mẹ chồng nào lại chấp nhận một nàng dâu được nhặt về. Hơn nữa, cô con dâu trước mặt bà đây vừa nghèo vừa xấu: mặt lưỡi cày, da xanh xám, ngực lép kẹp, quần áo rách như tổ đỉa. Bằng kinh nghiệm sống, bà cũng hiểu cô vợ nhặt kia chắc có lẽ chẳng yêu thương gì con bà, theo con bà chỉ vì đói. Mà nhà bà cũng đang đói. Những ngày tháng này thì có ai là không đói? Bà hoàn toàn có thể chối từ, phản đối cuộc hôn nhân này. Nhưng bà cụ Tứ đã chấp nhận cưu mang nàng dâu nhặt. Bà nghĩ, người ta gặp lúc khó khăn mới lấy con mình, mà con mình mới có vợ. Không tỏ ra khinh rẻ con dâu mà bà còn thấy thông cảm và thương con dâu: “bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót”, bà hiểu, phận là người con gái đi lấy chồng mà không có lá trầu, quả cau là khổ lắm, tủi lắm. Bao lo lắng, yêu thương của bà cụ Tứ được thể hiện trong một câu nói giản dị: “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”.

Vượt lên trên tất cả, niềm hy vọng vẫn tỏa sáng hơi căn nhà nhỏ rách nát. Trong ngổn ngang những buồn lo, bà cụ Tứ vẫn cố vui, bà động viên các con bằng triết lí dân gian giản dị mà sâu sắc: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Giữa những ngày đói kém, bà cụ Tứ vẫn đồng tình với việc làm tưởng như là hoang phí của Tràng khi anh con trai mua dầu về thắp đèn: “Thắp lên một tí cho nó sáng sủa”. Dường như, ai cũng mong chờ, hy vọng vào một tương lai tươi sáng như ngọn đèn dầu leo lét thắp sáng căn nhà nhỏ rách nát. Sáng hôm sau, bà dậy sớm, “tươi tỉnh khác ngày thường”, bà cùng con dâu dọn dẹp cửa nhà, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. “Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa”, quét đi những bụi bẩn để dọn chỗ cho một tương lai tươi sáng hơn với ánh sáng của niềm tin và hy vọng vào một cuộc sống mới đang chờ đợi ở phía trước. Trong bữa ăn ngày cưới, bà cụ Tứ nói toàn những chuyện vui để động viên các con, bà nghĩ tới một viễn cảnh tương lai sung túc, đủ đầy: “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem…”. Bữa cơm ngày đói thật thảm hại: “Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo”. Thiếu thốn là thế nhưng “cả nhà đều ăn rất ngon lành” bởi hạnh phúc và hy vọng đã khiến bữa cơm ấm cúng, đủ đầy hơn. Tội nghiệp và cảm động biết bao nhiêu khi Kim Lân đã để niềm vui ấy tỏa ra từ nồi cháo cám: “Chè đây… Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Bà hồ hởi mời các con. Chữ “ngon” không cho ta cảm xúc về vật chất mà là cảm xúc về tinh thần. Ở bà cụ Tứ, niềm tin vào hạnh phúc của các con đã biến đắng chát thành ngọt ngào. Nhưng Kim Lân không phải là một nhà văn lãng mạn, niềm vui của bà cụ Tứ tuy vui nhưng cũng có phần tội nghiệp bởi thực tại vẫn nghiệt ngã như thế, nồi cháo cám vẫn ở đó, đắng chát và nghẹn bứ như một minh chứng cho sự nghèo đói, khổ cực nơi làng quê Việt Nam giữa nạn đói năm 1945. Bà cụ Tứ không phải là nhân vật chính nhưng qua nhân vật này, Kim Lân đã thể hiện được những giá trị nhân đạo cơ bản của truyện ngắn. Đó là niềm thương cảm trước những mảnh đời khốn khổ trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đó còn là sự khẳng định vẻ đẹp, ngợi ca tấm lòng nhân ái, tình mẫu tử và sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của một người tuổi đã cao, sống giữa nạn đói mà vẫn luôn tin vào một tương lai tươi sáng.

Xem thêm:  Nghị luận suy nghĩ về bài thơ Khuyên Thanh Niên của Hồ Chí Minh

Là nhân vật phụ nhưng bà cụ Tứ lại là nhân vật thể hiện rõ nét nhất vẻ đẹp tâm hồn mà nhà văn Kim Lân gửi gắm qua truyện ngắn, đó chính là tấm lòng nhân ái cùng niềm khát khao sống mãnh liệt. Sự dũng cảm và tình yêu thương mênh mông của bà cụ Tứ đã giúp các con bà vơi đi được hần nào nỗi tủi hờn, chua xót, giúp họ có thêm sức mạnh để vượt lên cái đói, cái chết để mà sống, để mà hy vọng. Với niềm tin, hy vọng và khát vọng sống mãnh liệt ấy, nhân vật bà cụ Tứ không chỉ dừng lại ở phạm vi một tác phẩm văn học mà còn là nhân vật truyền cảm hứng và nguồn động lực đến mỗi người trong cuộc sống cho tới tận ngày nay.

Hải Anh

Check Also

phan tich dien bien tam trang nhan vat mi trong dem tinh mua xuan 310x165 - Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân đạt điểm cao

Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân đạt điểm cao

Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *