Home / Học tập / Ngữ văn lớp 12 / Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài đạt điểm cao

Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài đạt điểm cao

Đề bài: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài

Bài làm

Là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, bao gồm cả thời kì trước và sau năm 1975, đều gây được tiếng vang lớn, để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc. Sau năm 1975, văn học Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, đổi mới toàn diện, Nguyễn Minh Châu lại trở thành người tiên phong, đi sâu phản ánh số phận cá nhân trong cuộc sống đời thường đầy đa đoan, phức tạp. Thời kì này, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa ra đời và trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, đặc biệt nhờ nhân vật người đàn bà hàng chài, nhân vật chính, cũng là nhân vật thể hiện được hoàn hảo sự phức tạp, đa chiều của cuộc sống và con người mà nhà văn muốn diễn tả.

Ban đầu, tác phẩm được in trong tập truyện ngắn Bến quê nhưng sau đó, nhà văn đã lấy “Chiếc thuyền ngoài xa” làm nhan đề cho một tập truyện khác của mình. Truyện ngắn kể về chuyến đi đến một vùng biển miền Trung để chụp ảnh cho một tờ lịch của phóng viên Phùng. Ở vùng biển ấy, tình cờ, Phùng gặp lại Đẩu, người đồng đội cũ nay đang làm Chánh án tòa án huyện, và cũng vô tình, vào một buổi sáng, anh bắt gặp hình ảnh chiếc thuyền đánh cá đang tiến về bờ từ xa. Hình ảnh ấy đẹp đến mức khiến người nghệ sĩ thấy động lòng và xúc động khôn nguôi, thế nhưng khi con thuyền cập bến, nó lại phơi bày ra trước mắt Phùng cảnh tượng chồng bạo hành vợ dã man mà anh không thể nào ngờ được. Sau đó, Phùng cùng Đẩu đã thuyết phục người đàn bà li dị chồng, thế nhưng chị ta nhất quyết không chịu. Cuối cùng, hiểu được nỗi khổ, cuộc sống bế tắc, tối tăm của người đàn bà, Phùng và Đẩu đã có những nhận thức mới về cuộc đời, con người. Chiếc thuyền ngoài xa- có lẽ không phải mà ngẫu nhiên mà nhà văn Nguyễn Minh Châu lại lấy tên truyện ngắn này làm tên cho cả tập truyện- nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa” có ý nghĩa sâu sắc, vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là hình ảnh chiếc thuyền đẹp tuyệt mỹ, đến mức khiến người nghệ sĩ bối rối, xúc động đến tràn ngập hạnh phúc trong tâm hồn. Đó cũng chính là hình ảnh khiến người nghệ sĩ và cả bạn đọc nhận ra sự đối lập gay gắt giữa con thuyền khi nhìn từ xa và khi nhìn ở cự ly gần- đằng sau vẻ đẹp ấy là cuộc sống vất vả, khổ cực của những người dân chài phải hàng ngày sống trong trói buộc của những đói nghèo, bế tắc, bạo lực. Chính từ sự đối lập ấy, người ta nhận ra cuộc sống không đơn giản, số phận con người lại càng phức tạp, bởi vậy, muốn nhìn cuộc đời, người nghệ sĩ phải nhìn nó từ nhiều phía, phải gắn bó và tìm hiểu nó để phản ánh một cách chân thực và đầy đủ nhất đời sống con người. Nghệ thuật phải làm tròn trách nhiệm, bổn phận của nó: Nghệ thuật vị nhân sinh.

Là nhân vật chính của truyện ngắn nhưng tác giả lại không đặt tên cho người đàn bà bởi có rất nhiều những số phận bất hạnh như chị ta ở khắp mọi nơi mà người đàn bà hàng chài chỉ là một tỏng bao người phụ nữ vùng biển khốn khổ khác. Đó là một người đàn bà bất hạnh. Sự bất hạnh thể hiện ngay ở ngoại hình và dáng vẻ. “Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt”, người đàn bà bước xuống từ chiếc thuyền đẹp như mơ ấy lại là một người đàn bà thô kệch, mặt mũi xấu xí, đầy vẻ lam lũ, nghèo khổ. Tuổi đã ngoài bốn mươi, thân hình cao lớn của đàn bà vùng biển quen thuộc cùng những đường nét thô kệch, “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”, người đàn bà uể oải, thiếu sức sống đã nói lên sự cực nhọc, vất vả trong cuộc sống bươn chải kiếm miếng cơm manh áo hàng ngày của chị. Sự khốn khổ ấy càng được người đọc cảm nhận rõ nét hơn qua những chi tiết tác giả tả dáng vẻ lúng túng, sợ sệt của người đàn bà. Đến tòa án huyện, “vừa đặt chân vào trong gian phòng đầy bàn ghế và giấy má”, người đàn bà “liền tìm đến một góc tường để ngồi”, sau được mời, chị cũng chỉ dám ngồi vào mép ghế và cố thu người lại. Dường như, chị cảm thấy mặc cảm về thân phận, tự thấy sự có mặt của mình trong cuộc sống này là phi lí.

Xem thêm:  Nêu những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hoá có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

Người đàn bà tự ti về chính mình ấy phải chịu nỗi bất hạnh khi bị chính người chồng của mình bạo hành cả về thể xác lẫn tinh thần. Chị luôn phải chịu những trận đòi roi khủng khiếp của chồng, “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, người chồng vũ phu dã man đánh đập chị. Hắn hùng hổ dùng chiếc thắt lưng da to bản quật tới tấp xuống lưng chị, vừa quật vừa rủa: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Bất kể lúc nào, thấy khổ quá là lão lại lôi chị ra mà đánh, bởi lão không đủ sức chịu đựng một mình cái cảm giác bản thân bất lực trước cuộc sống nghèo khổ, vất vả, lênh đênh trên biển quanh năm suốt tháng. Không chỉ bị chồng chửi rủa, người đàn bà khốn khổ còn bị ám ảnh bởi sự lo sợ, đau đớn khi thấy con cái bị tổn thương vì những hành động của bố. Chị không muốn con cái chứng kiến cảnh tượng chồng đánh mình, và chị sợ và đau đớn khi thằng Phác- đứa con trai chỉ mới 8 tuổi của chị lao vào đánh bố nó để bảo vệ mẹ. “Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn- vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã”, chị khóc, chị gọi tên con trai, chị chắp tay lạy thằng bé. Nỗi đau của con người dường như đã đến cùng cực sự chịu đựng.

Thế nhưng, đau đớn, bất hạnh lớn nhất đối với chị lại là sự nghèo đói, là đời sống bấp bênh trên biển không biết ngày mai cuộc đời sẽ trôi dạt về đâu. Cuộc sống gia đình chị chưa lúc nào thoát khỏi cảnh đói nghèo, lam lũ, có khi biển động, cả nhà phải ăn xương rồng luộc chấm muối cả tháng trời. Hơn chục con người chen chúc trên một chiếc thuyền nhỏ, cuộc mưu sinh đã khó khăn lại càng thêm khổ cực. Nghèo đói chính là điểm xuất phát của mọi bi kịch, bởi người chồng của chị chính vì cuộc sống quá nghèo khổ mới trở nên mất đi nhân tính, mới bạo hành chị, coi chị như nơi để trút hết mọi buồn bực, bất lực của một cuộc sống khổ cực, nghèo đói. Tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của một người đàn bà hàng chài ngày ngày phải lênh đênh trên biển là minh chứng xác thực và đau đớn nhất cho sự nghèo khổ của chị. Đó cũng chính là lí do người đàn bà cam chịu những trận đòn khủng khiếp, dã man từ người chồng vũ phu mà không chịu li dị. Chị ý thức được sự vất vả, khổ cực của một người đàn bà trên chiếc thuyền không có đàn ông, bởi ngay cả khi đã có chồng, có những người đàn ông ở trên thuyền, cuộc sống của họ vẫn nghèo đói và vất vả như vậy. Người đàn bà khốn khổ hiểu rằng giông bão trên biển còn khủng khiếp hơn những đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần của chồng. Cuộc sống trên biển bấp bênh là thế nhưng chị cũng chẳng thể bỏ biển, lên đất liền vì không có nghề, về đất liền thì biết lấy gì làm ăn mà kiếm sống. Gia đình người đàn bà rơi vào bế tắc.

phan tich nhan vat nguoi dan ba hang chai - Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài đạt điểm cao

Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài

Trên tất cả những bất hạnh ấy, người đàn bà hàng chài hiện lên trong tác phẩm, quê mùa, nghèo khổ, thất học ấy lại là một người đàn bà thâm trầm, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Trong suy nghĩ của Phùng và Đẩu, người đàn bà khốn khổ, đáng thương ấy nên li dị để giải thoát cho chính mình và có lẽ là cho cả những đứa con nữa, nhưng cuộc sống không hề đơn giản như thế. Người đàn bà nhất quyết không chịu li dị, chị đã chắp cả hai tay lại mà vái lia lịa: “Con lạy quý tòa, quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Thái độ của chị khiến Phùng và Đẩu vô cùng kinh ngạc: “Không thể nào hiểu được!”. Đó là một câu chuyện dài mà nếu người đàn bà không trải lòng, có lẽ Phùng và Đẩu sẽ chẳng bao giờ hiểu được sự phức tạp của cuộc sống, con người. Người đàn bà từng hóa đá, câm lặng trước đòn roi của chồng, từng vỡ òa trong đau khổ trước tình yêu với con, từng khúm núm, rụt rè đến sợ sệt trong văn phòng của Chánh án tòa huyện, nay như biến thành một con người khác hoàn toàn. Thay đổi cả tư thế và cách xưng hô, trước mặt Phùng và Đẩu nay là một người đàn bà hàng chài đã trải đời đang ngẩng lên nhìn thẳng vào từng người, xưng “chị” và gọi hai người bằng “chú”. Chị ta không ngại ngần chỉ rõ sự thiếu thực tế của Phùng và Đẩu. Hai người họ không hiểu và không biết, cuộc sống của những người dân chài hàng ngày lênh đênh trên biển khó nhọc, vất vả đến nhường nào, nhất là khi không có đàn ông: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Bởi hai người không phải là đàn bà, hai người làm sao hiểu được sự vất vả của người đàn bà giữa những giông gió, bão táp trên biển. Khổ cực là thế nhưng lại không thể lên bờ, về đất liền làm ăn vì không có nghề, người đàn bà đã cho Phùng và Đẩu thấy sự quẩn quanh, bế tắc trong cuộc sống của mình và cũng là cuộc sống của những người dân chài sau chiến tranh. Trước những lí lẽ thấu tình đạt lý của người đàn bà, Phùng và Đẩu thấy mình trở thành những kẻ ngây thơ, nông nổi. Sự cam chịu của người đàn bà là một phẩm chất, sự thông minh cần thiết khi xã hội chưa có một giải pháp thực sự hiệu quả để thay đổi số phận của họ.

Xem thêm:  Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài

Chính vì những thấu hiểu ấy, người đàn bà sẵn sàng cam chịu những trận đòn roi khủng khiếp của chồng. Phùng, Đẩu và cả thằng Phác chỉ thấy được sự dã man của người chồng, người cha vũ phu, đáng lên án khi trút tất cả sự giận dữ, bất lực trước cuộc sống nghèo khổ lên đầu vợ mình. Nhưng người đàn bà, với vai trò là một người vợ, nhân hậu và bao dung, lại thấu hiểu được nổi khổ của chồng. Chính đói nghèo, khổ cực đã biến người chồng hiền lành của chị thành một con quái vật độc ác, tàn nhẫn, ích kỉ, nhưng vì hiểu và thương chồng, chị chấp nhận chịu đựng. Người đàn bà hiểu cuộc sống lênh đênh trên biển khó khăn, đầy sóng gió và cũng lắm hiểm nguy, chị cũng là người cùng đối mặt với những thử thách ấy. Nhưng chị vẫn chọn cách cam chịu người chồng vũ phu, chị tự an ủi mình: lão đánh vợ cũng như “đàn ông thuyền khác uống rượu” để quên đi nỗi đâu khổ của mình. Vì vậy, người đàn bà cứ thế mà chịu đựng, không có lấy nửa lời oán trách như một cách làm dịu bớt những uất ức, khổ sở, bất lực chất chứa trong lòng chồng, dẫu biết đó là cách giải quyết tiêu cực. Chị hoàn toàn tự nguyện, lặng lẽ theo chồng lên bờ, lặng lẽ chịu những trận đòn như lửa cháy mà không kêu ca, trốn chạy rồi sau đó lại lặng lẽ theo chồng trở về thuyền. Lòng vị tha và nhân hậu của người đàn bà khiến Phùng và Đẩu không thể nào hiểu nổi.

Người đàn bà hàng chài khốn khổ ấy cũng là một người mẹ, và tình mẫu tử mà chị dành cho con đã làm cảm động không chỉ Phùng mà còn tất cả bạn đọc. Vốn dĩ tình mẫu tử được coi là một thiên tính, người phụ nữ được sinh ra với thiên chức làm mẹ, đẻ con và nuôi dạy đến khi con trưởng thành, “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Bởi vì con, chị sẵn sàng cam chịu những trận đòn roi dã man của chồng chỉ vì cuộc mưu sinh lênh đênh trên biển cần có người đàn ông để chống chọi với những bão giông, phong ba, để kiếm chút tiền lo cho con cái cuộc sống qua ngày. Để đưa ra sự lựa chọn này, người đàn bà hẳn đã suy tính kĩ lưỡng, và tất cả những suy tính cũng đều là vì con của mình. Nhưng chính quyết định ấy lại dẫn đến một hậu quả khác, đó là khi con chị chứng kiến cảnh bạo hành bố đánh mẹ. Chị đã xin chồng đưa lên bờ để đánh bởi không muốn đứa con gái nhìn thấy cảnh bạo hành ấy. Người đàn bà khốn khổ giống như con chim biển, dang rộng đôi cánh để che chắn cho bầy con líu ríu dưới chân, đôi cánh bé nhở mà muốn che cả phong ba, bão táp của cuộc đời nên dù che chắn, chị vẫn không tránh nổi những tổn thương của con cái. Lên bờ, thằng Phác chứng kiến cảnh bố nó đánh mẹ nó dã man, và thằng bé đã xông vào đánh bố mình. Hành động của thằng bé đã khiến người đàn bà vô cùng đau khổ, nỗi đau như viên đạn xuyên vào trái tim chị. Chị “ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Nỗi đau trên thân thể của những đòn roi liên tiếp không là gì so với nỗi đau đớn, tủi nhục trong trái tim người mẹ để đứa con nhỏ thơ ngây phải chứng kiến cảnh bố đánh mẹ dã man đến mức khiến nó phải xông vào đánh bố nó. Người đàn bà thương và cũng thấy xấu hổ, đau đớn vì đã vô tình làm tổn thương tâm hồn đứa con thơ dại. Yêu con như thế nên trong câu chuyện cuộc đời mình, khi nhắc đến những lúc vợ chồng con cái sống hào thuận trên thuyền, khuôn mặt nhợt nhạt xấu xí của chị ửng sáng lên. Cam chịu, nhẫn nhục vì con, lam lũ, vất vả vì con nên niềm vui của chị cũng xuất phát từ con cái. Phùng, Đẩu và cả bạn đọc chắc chắn sẽ không thể nào quên được sự chân thành đến cảm động của người đàn bà khốn khổ trước cảnh ấm no của đàn con: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…”. Nhân vật người đàn bà dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu đã để lại trong bạn đọc những ấn tượng đặc biệt sâu sắc. Đó là một người đàn bà từng trải luôn ý thức được thân phận mình, hiểu đời và trải đời. Chính nhờ thế mà chị có thể cam chịu những khó khăn, vất vả, không có lấy nửa lời oán trách với tấm lòng, bao dung, nhân hậu và một tình mẫu tử thiêng liêng luôn ấm nóng trong trái tim người làm mẹ. Vì con cái, vì gia đình, chị có thể chịu đựng tất cả. Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài chính là vẻ đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam luôn gồng mình gánh đỡ những khó khăn, khổ cực để bảo vệ gia đình.

Xem thêm:  Soạn bài rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài, trong văn nghị luận

Với nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã thêm vào kho tàng văn học hiện đại Việt Nam một biểu tượng nghệ huật đầy ám ảnh, thể hiện những tư tưởng nhân đạo sâu sắc trong thời đại đổi mới của đất nước. Đó là niềm cảm thương trước số phận  những con người bị cầm tù trong cái đói nghèo, tăm tối và bạo lực mà không có lối thoát. Đó còn là thái độ lên án đối với thói vũ phu, tàn bạo, tình trạng bạo lực gia đình mà cho đến ngày nay vẫn còn hiện diện trong cuộc sống. Người đàn ông trong truyện ngắn, dẫu biết rằng vì cuộc sống quá khổ, quá nghèo nên mới có những hành vi bạo lực như vậy, nhưng cũng chính là vì sự ích kỉ, tự cho phép mình hành hạ người khác để thỏa mãn nỗi bực dọc của bản thân mà người đàn bà mới phải chịu cảnh bạo hành dã man. Chính hành vi bạo lực của người đàn ông đã dẫn đến việc con cái đánh bố để bảo vệ mẹ, hạnh phúc gia đình tan vỡ. Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp của người đàn bà khốn khổ nhưng phẩm hạnh. Để tìm ra lối thoát cho người đàn bà hàng chài, xã hội cần có những giải pháp thiết thực, mọi người cần nhìn sâu vào thực tế cuộc sống, tìm và hiểu về cuộc sống phức tạp. Có như thế, ta mới có thể tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất cho số phận tối tăm, bế tắc của những con người phải sống trong nghèo đói, khổ cực như chị. Để bi kịch của người đàn bà diễn ra sau bãi xe tăng hỏng của chiến trường xưa, Nguyễn Minh Châu muốn gợi cho người đọc những lo âu, suy ngẫm: cuộc chiến đấu chống lại cái đói nghèo, tăm tối, bạo lực còn gian nan, lâu dài hơn cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã khắc họa nhân vật người đàn bà hàng chài trong những bất hạnh với những phẩm hạnh cao đẹp, từ đó, thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng mới mẻ của nhà văn về cuộc sống phức tạp, đa chiều. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra lời cảnh báo, nhắc nhở về số phận con người trong thời đại mới: chừng nào con người còn chưa thoát khỏi cuộc sống tăm tối, chừng đó đất nước vẫn chưa thể đổi mới hoàn toàn, trở nên phát triển hơn. Muốn phản ánh chân thực đời sống, người nghệ sĩ phải có tình yêu với con người và bản lĩnh trung thực, phải dám nói ra những hiện thực dù tàn nhẫn, phũ phàng đến đâu, để đời sống con người ngày một tốt đẹp hơn.

Hải Anh

Check Also

phan tich dien bien tam trang nhan vat mi trong dem tinh mua xuan 310x165 - Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân đạt điểm cao

Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân đạt điểm cao

Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *