Home / Học tập / Ngữ văn lớp 12 / Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt đạt điểm cao

Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt đạt điểm cao

Đề bài: Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt

Bài làm

Đề tài người nông dân, người lao động nghèo là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam, rất nhiều nhà văn đã trưởng thành từ đây. Vốn là con đẻ của đồng ruộng, thấu hiểu sâu sắc về nông thôn và người nông dân, Kim Lân đã có hướng khai thác đề tài một cách độc đáo. Trong khi những nhà văn khác tập trung phản ánh cuộc sống nghèo khổ, lam lũ của những người lao động nghèo thì Kim Lân lại chọn vẻ đẹp tâm hồn luôn tỏa sáng giữa những khổ cực ấy của họ để thể hiện, khẳng định và ngợi ca. Điển hình trong những tác phẩm của ông chính là nhân vật Tràng với lòng nhân ái, yêu thương con người và khát vọng sống mãnh liệt trong truyện ngắn Vợ nhặt.

Trước Cách mạng, Kim Lân đã viết tiểu thuyết Xóm ngụ cư nhưng đã bị thất lạc trong chiến tranh. Hòa bình lập lại, từ những gì còn sót lại của cốt truyện Xóm ngụ cư, nhà văn đã sáng tác nên truyện ngắn Vợ nhặt. Truyện kể về Tràng- người lao động nghèo sống ở xóm ngụ cư cùng với mẹ của mình và sự việc vừa lạ vừa éo le: Tràng “nhặt” được vợ. Người ta thường chỉ dùng từ “nhặt” với những vật nhỏ bé, không có giá trị, ở dưới đất. Từ “nhặt” ở đây lại được đặt cùng chữ “vợ” khiến người đọc không khỏi về giá trị của người vợ cũng như hoàn cảnh của người chồng. Chính sự kích thích, gây tò mò này đã biến “Vợ nhặt” trở thành nhan đề của tác phẩm. Viết về những năm đói 1945 nhưng truyện ngắn không đặt nặng trọng tâm vào việc lên án, tố cáo tội ác của Thực dân Pháp và Phát xít Nhật mà chủ yếu xoay quanh các nhân vật với vẻ đẹp nội tâm tỏa sáng, điển hình là nhân vật Tràng.

Làng quê Việt Nam hiện lên trong tác phẩm tuy chỉ là nền cảnh nhưng đã phản ánh một cách chân thực và sống động nạn đói khủng khiếp năm nào. Người sống thì được so sánh với những bóng ma, dật dờ đi lại, da dẻ xanh xám không còn chút sức sống; người chết thì nhiều vô kể, như ngả rạ mà la liệt khắp chợ. Khiến cho khung cảnh làng quê càng thêm u ám, thê lương chính là những tiếng quạ. Tiếng quạ kêu thê lương chen vào những tiếng khóc thảm thiết vì nghèo, vì đói không khỏi khiến người ta rùng mình run sợ. Gắp không khí u ám, tối tăm là mùi ẩm mốc của nghèo khổ, mùi gây của xác người chết vì đói, mùi đốt đống rấm để mong xua tan cái lạnh lẽo của sự chết chóc. Không còn hình ảnh tươi đẹp, thanh bình nữa, làng quê như trở thành nghĩa địa chôn vùi số phận những người lao động khốn khổ trong đói nghèo không lối thoát.

Xem thêm:  Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

Giữa những ngày đói ấy, giá trị của con nguời trở nên vô cùng rẻ rúng. Là một người lao động nghèo khổ, cả gia tài của Tràng chỉ có một căn nhà rúm ró, rách nát với những bát đũa, quần áo, đồ đạc chẳng đáng bao nhiêu. Một người như thế, giữa những ngày đói kém lại có thể lấy được vợ sao? Lấy vợ là chuyện hệ trọng cả một đời, cần có đầy đủ sính lễ, có dạm hỏi, rước dâu đàng hoàng, tiền tốn cũng rất nhiều, một người lao động nghèo như Tràng sao có thể lo liệu được tất cả những việc đó. Không thể lấy vợ, Tràng phải “nhặt” vợ. Không ăn hỏi, không cưới xin, ngay đến cả một bát cơm cúng gia tiên cũng không có, hai người chỉ đơn giản là về ở cùng với nhau trong căn nhà rách nát của Tràng. Đến bữa ăn ngày cưới cũng chỉ là nồi cháo cám đắng chát. Cái đói, cái nghèo khiến cuộc sống Tràng như rơi xuống tận cùng của khổ cực.

phan tich nhan vat trang trong truyen ngan vo nhat - Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt đạt điểm cao

Phân tích nhân vật Tràng

Thế nhưng, giữa cuộc sống tối tăm ấy, ở Tràng vẫn ngời sáng những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý. Tràng là một người đàn ông tốt bụng, hắn được cả xóm ngụ cư quý mến, những đứa trẻ trêu đùa với hắn và cả làng vui khi thấy hắn đưa về cô vợ “nhặt”. Tràng gặp thị ở trước cửa kho thóc, một người đàn bà nghèo khó, gầy guộc phải ngồi trước cửa kho thóc nhặt những hạt rơi hạt vãi hay chờ người ta có công việc gì thì gọi đến làm để kiếm sống qua ngày. Không biết cha mẹ, người thân thị ở đâu, thị là người như thế nào, nhưng giữa những ngày đói kém như thế, Tràng vẫn sẵn sàng đãi thị một bữa no bốn bát bánh đúc. Hắn lại cưu mang thị và trước khi về nhà, hắn còn “đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê”. Tất cả đều xuất phát từ lòng nhân ái, yêu thương con người của Tràng.

Xem thêm:  Suy nghĩ của em về cuộc vận động chống bệnh thành tích trong giáo dục và chống tiêu cực trong thi cử.

Cuộc hôn nhân bất ngờ đến thật dễ dàng khiến Tràng vô cùng hạnh phúc. Mới đầu, Tràng còn thấy “chợn” bởi giữa những ngày đói kém như thế, nuôi mình đã khó nay lại nuôi thêm một người, Tràng không biết rồi cuộc sống hai người sẽ như thế nào. Nhưng ngay lập tức, khát khao hạnh phúc mãnh liệt đã trỗi dậy trong hắn. Tràng tặc lưỡi: “Chậc, kệ!”. Cái tặ lưỡi tưởng như là bồng bột, là xốc nổi nhưng thực chất, nó lại thể hiện không chỉ khát khao hạnh phúc mà còn là nỗi khát khao có một cuộc sống đủ đầy, gia đình êm ấm bất chấp nạn đói hoành hành. Với hành động tặc lưỡi ấy, Tràng đã dám thách thức với cả cái đói để có hạnh phúc, có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Dắt cô vợ “nhặt” về làng, Tràng không giấu nổi niềm hạnh phúc, vui sướng từ nét mặt đến cử chỉ. “Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Biết có người nhìn, hắn vênh mặt lên, một vẻ hãnh diện và vui sướng vô cùng. Ngập tràn trong hạnh phúc, không biết từ khi nào Tràng đã quên đi những cảnh đói khổ, ê chề, hắn chỉ nghĩ đến tình nghĩa với người đàn bà, đó là lí do vì sao hắn lại ngạc nhiên khi thấy mẹ khóc. Bà cụ Tứ khóc vì thương, vì xót cho hai vợ chồng phải lấy nhau trong lúc đói kém này, đến nỗi ngay cả một đám hỏi cũng không có, nhưng vì niềm hạnh phúc rạo rực trong Tràng, hắn đã quên mất thực tại đầy tàn nhẫn ấy. Việc có vợ đối với Tràng giống như một giấc mơ, hắn có lúc còn không tin vào sự việc ấy. Cũng chính nhờ sự xuất hiện của người đàn bà trong cuộc đời Tràng, hắn trưởng thành hơn hẳn. Lúc trước hắn vô tâm, thờ ơ với gia đình, nhưng sau khi có vợ, tâm lí, tính cách hắn đã có sự thay đổi lớn. Tràng thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn, cái nhà như tổ ấm che mưa che nắng cho con người ta những lúc ta vấp ngã trong cuộc đời. Tràng thấy mình đã nên người. Không còn ỷ lại vào mẹ nữa, hắn đã ý thức được trách nhiệm, bổn phận của người đàn ông duy nhất trong gia đình đối với mẹ, với vợ. Có thể nói, chính việc lấy vợ đã khiến con người Tràng trưởng thành hơn để từ đó, biết khát khao, hướng tới một tương lai tươi sáng đang chờ ở phía trước.

Xem thêm:  Soạn bài giá trị văn học và tiếp nhận văn học

Qua nhân vật Tràng, nhà văn Kim Lân không chỉ khắc họa hình tượng người lao động nghèo trong nạn đói năm 1945 mà còn thể hiện niềm cảm thương sâu sắc trước hoàn cảnh cùng cực của người dân, từ đó, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn luôn tỏa sáng trong họ. Bất chấp hoàn cảnh, những người nông dân chất phác, lương thiện luôn có một trái tim giàu tình yêu thương, lòng nhân ái và một khát vọng sống mãnh liệt. Khát vọng sống ấy chính là nguồn động lực để đưa người dân vươn lên, tìm đến Cách mạng, tìm đến con đường duy nhất giải thoát dân tộc khỏi xiềng xích nô lệ.

Hải Anh

Check Also

phan tich dien bien tam trang nhan vat mi trong dem tinh mua xuan 310x165 - Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân đạt điểm cao

Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân đạt điểm cao

Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *